MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÂN LOẠI NỢ KHÁCH HÀNG

          Ngày 21 tháng 01 năm 2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN và tiếp theo là Thông tư số 09/2014/TT-NHNN (ngày 18 tháng 3 năm 2014) quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Đây là kim chỉ nam của các ngân hàng và tổ chức tín dụng (gọi tắt là TCTD) trong việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động, nhất là hoạt động cho vay.

          Đối với các Ngân hàng lớn thì việc áp dụng Thông tư này vào hoạt động cho vay là khá thuận lọi, vì các Ngân hàng đều có sử dụng phần mềm máy tính, có kết nối với Trung tâm Thông tin tín dụng (gọi tắt là CIC), do đó việc phân loại nợ, điều chỉnh kết quả phân loại đều tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, đối với các tổ chức tín dụng nhỏ thì việc am hiểu Thông tư để thực hiện cho đúng theo quy định cũng phát sinh một số vấn đề cần đi sâu tìm hiểu.

          Thứ nhất, khi phân loại nợ nên sử dụng phương pháp định lượng hay phương pháp định tính

          Đa số các TCTD khi phân loại nợ khách hàng đều sử dụng phương pháp định lượng. Tức là căn cứ vào số ngày quá hạn khoản nợ của khách hàng để phân loại vào các nhóm tương ứng.

          Tuy nhiên, có một số TCTD muốn được chủ động hơn trong việc đánh giá phân loại nợ khách hàng nên có thể sử dụng theo phương pháp định tính (nhưng cũng phải kết hợp với phương pháp định lượng). Để sử dụng được phương pháp phân loại này, TCTD phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

          - Có Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ và có thời gian thử nghiệm tối thiểu 01 năm;

          - Có chính sách dự phòng rủi ro theo quy định;

          - Có chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô hình giám sát rủi ro tín dụng, phương pháp xác định, đo lường rủi ro tín dụng (trong đó bao gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng theo hợp đồng tín dụng, tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ) và quản lý nợ;

          - Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) trong việc phê duyệt, thực hiện và kiểm tra thực hiện Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng của TCTD và tính độc lập của các bộ phận quản lý rủi ro.

          Như vậy, mặc dù phương pháp định tính có những ưu điểm riêng, nhưng để quản lý việc phân loại nợ (liên quan trực tiếp đến việc trích lập dự phòng và chi phí hoạt động, lợi nhuận của TCTD) thì phương pháp này phải được NHNN chấp thuận bằng văn bản. Do đó, đa số các TCTD hiện nay chủ yếu đều sử dụng phương pháp định lượng trong phân loại nợ.

          Thứ hai, việc điều chỉnh kết quả phân loại nợ theo CIC thực hiện như thế nào

          Đối với các ngân hàng có hệ thống phần mềm kết nối với CIC thì việc điều chỉnh kết quả phân loại nợ thường được thực hiện ngay thời điểm kết thúc tháng hoặc quý. Riêng đối với các TCTD vi mô thì việc phân loại phải thực hiện thủ công hơn, quy trình được thực hiện như sau:

          - Ít nhất mỗi quý một lần, trong 15 (mười lăm) ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của mỗi quý, TCTD phải tự thực hiện phân loại nợ đến thời điểm cuối ngày làm việc cuối cùng của quý trước và gửi kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng cho CIC. Tuy nhiên, việc thực hiện này có thể bị chênh lệch về kết quả, nhất là trường hợp trong 05-07 ngày làm việc đầu tháng, TCTD đã phải cung cấp kết quả phân loại nợ cho CIC, trong khi có thể đến ngày 15 đầu tháng thì TCTD mới thực hiện việc phân loại nợ của quý trước đó. Do đó, kết quả cung cấp cho CIC và kết quả tự phân loại của Quý có thể bị sai lệch.

          - Trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày nhận được kết quả tự phân loại nợ của TCTD, CIC tổng hợp danh sách khách hàng theo nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất.

          - Trong thời gian tối đa 05 (năm) ngày kể từ ngày CIC tổng hợp danh sách khách hàng nêu trên, TCTD sử dụng kết quả phân loại nhóm nợ khách hàng do CIC cung cấp để điều chỉnh kết quả phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo nguyên tắc: Trường hợp nợ của khách hàng được phân loại vào nhóm nợ có mức độ rủi ro thấp hơn nhóm nợ theo danh sách do CIC cung cấp, TCTD phải điều chỉnh kết quả phân loại nợ theo nhóm nợ được CIC cung cấp.

          Thứ ba, việc phân loại nợ ở kỳ tiếp theo nên sử dụng kết quả phân loại của tổ chức tín dụng hay kết quả điều chỉnh theo CIC

          Để hình dung nội dung này, ta có thể đưa tình huống như sau:

          Tại Quý I, TCTD đã phân loại nợ của khách hàng A vào nhóm 1. Tuy nhiên, theo kết quả phân loại nợ của khách hàng do CIC cung cấp thì khách hàng này xếp vào nhóm 5. Theo đó, TCTD đã điều chỉnh kết quả phân loại đối với khách hàng A theo kết quả CIC là nhóm 5 và trích lập dự phòng rủi ro cho vay theo quy định.

          Vậy trường hợp phân loại nợ tại Quý II thì TCTD thực hiện như thế nào với giả định khách hàng A có khoản nợ gốc quá hạn với thời gian quá hạn là 30 ngày. Có hai trường hợp sau:

          Trường hợp 1: TCTD thực hiện tự phân loại nợ khách hàng theo hệ thống của TCTD đó (tức là quý trước khách hàng phân loại nợ nhóm 1 thì quý này nếu có nợ quá hạn 30 ngày thì TCTD sẽ phân loại nợ vào nhóm 2) và sau đó gửi kết quả cho CIC.

          Trường hợp 2: TCTD sử dụng kết quả phân loại nợ đã điều chỉnh theo kết quả CIC của Quý trước để làm cơ sở phân loại nợ cho khách hàng A ở quý này. Vì vậy, khách hàng A đã được điều chỉnh phân loại nợ vào nhóm 5 ở quý trước (theo CIC) và hiện đang phát sinh nợ quá hạn thì ở quý này thì chưa đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư 02/2013/TT-NHNN để được phân loại nợ vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn do đó phải tiếp tục bị phân loại ở nhóm 5.

          Theo kết quả trả lời của Ngân hàng Nhà nước thì TCTD phải thực hiện theo trường hợp 1, tức là phải tự phân loại trước khi cung cấp kết quả cho CIC. Sau khi có kết quả phân loại nợ khách hàng do CIC cung cấp thì TCTD sẽ điều chỉnh kết quả phân loại khách hàng vào nhóm nợ cao nhất theo kết quả phân loại nợ của CIC.

          Thứ tư, việc áp dụng các điều kiện để nợ có thể được phân loại vào nhóm có rủi ro thấp hơn.

          Theo quy định thì khách hàng phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

           (i) Khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc và lãi của các kỳ hạn trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu 03 (ba) tháng đối với nợ trung và dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn/theo thời hạn được cơ cấu lại

          (ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng minh việc khách hàng đã trả nợ;

          (iii) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có đủ cơ sở thông tin, tài liệu đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.

          Như vậy, thông thường một TCTD khi áp dụng điều khoản này thường đáp ứng điều kiện (i), nhưng đối với điều kiện (iii) thì dường như việc thu thập thông tin là tương đối khó khăn, và lưu ý là trong hồ sơ hạ nhóm nợ thường thiếu hồ sơ này.

          Ngoài một số các vấn đề nêu trên, việc phân loại nợ của khách hàng cũng thường phát sinh một số trường hợp đặc biệt, căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị và khách hàng, TCTD có thể thông tin cho NHNN để được hướng dẫn cụ thể.

Huỳnh Thị Vân- DDIF

Liên kết website