CẦN THÁO GỠ VƯỚNG MẮC VỀ CƠ CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

          Ngày 15 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (gọi tắt là QĐ 58).

          Căn cứ Quyết định trên, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa VIII, nhiệm kỳ 2011-2016, kỳ họp thứ 8 đã thống nhất thông qua Đề án thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố tại Nghị quyết số 53/2013/NQ-HĐND ngày 13/12/2013. Trên cơ sở đó, Chủ tịch UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 9299/QĐ-UBND ngày 31/12/2013 về việc thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Đà Nẵng (gọi tắt là Quỹ)  và Quyết định số 1467/QĐ-UBND ngày 07/3/2014 về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Đà Nẵng.

          Qua thực tế hoạt động, Quỹ đã gặp phải những vướng mắc phát sinh do cơ chế hoạt động theo Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg; cần sự tháo gỡ từ phía Chính phủ và các bộ ngành Trung ương để Quỹ thực sự thực hiện được vai trò hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

          1. Vướng mắc do quy định về bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn:

          Điều 23, QĐ 58 qui định: “Bên được bảo lãnh phải sử dụng tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai thuộc quyền sở hữu của mình mà pháp luật không cấm giao dịch để thực hiện các biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn tại bên bảo lãnh theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”.

          Như vậy, để được Quỹ cấp bảo lãnh tín dụng thì ngoài việc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo lãnh, doanh nghiệp còn phải có tài sản bảo đảm tại Quỹ cho khoản bảo lãnh, thậm chí tài sản đó phải là của mình (tức là của bản thân doanh nghiệp) chứ không được của bên thứ 3.

          Tuy nhiên, xét cả về mặt lý luận lẫn thực tế, nếu doanh nghiệp đã có tài sản đảm bảo thì sẽ thế chấp cho ngân hàng để vay trực tiếp chứ không cần Quỹ bảo lãnh để sang ngân hàng vay vốn, vì doanh nghiệp phải mất thêm khoản phí bảo lãnh, vừa mất thời gian làm hồ sơ thủ tục, phí thẩm định giá; do đó, doanh nghiệp không chấp nhận điều này nên Quỹ cũng không thể thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp được. Đó là một thực tế, thậm chí nếu doanh nghiệp được ngân hàng xếp hạng tốt, phương án vay vốn được đánh giá là khả thi và hiệu quả thì ngân hàng cho doanh nghiệp vay không có tài sản đảm bảo đối với phần tài sản còn thiếu chứ không cần chứng thư bảo lãnh.

          2. Vướng mắc trong thực hiện quy định bảo toàn vốn.

          Điều 32, QĐ 58 qui định: “Vốn hoạt động của Quỹ phải được sử dụng đảm bảo an toàn vốn và tài sản”. Điều này được hiểu là Quỹ hoạt động phải bảo toàn và phát triển vốn hoạt động. Trong khi đó, hoạt động bảo lãnh tín dụng, hay nói cách khác là “lãnh nợ” là một hoạt động rất rủi ro; do đó mà QĐ 58 có quy định về việc doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo tại Quỹ để khi phát sinh rủi ro thì Quỹ xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ nhằm thực hiện bảo toàn vốn, tuy nhiên lại gặp phải vướng mắc như đã nêu trên.

          Để giải quyết vướng mắc này, theo tôi, cần phải có cơ chế về mức trích và tạo lập Quỹ dự phòng rủi ro đủ lớn để bù đắp khi rủi ro xảy ra mà không phải dùng đến vốn điều lệ để bù đắp dẫn đến không bảo toàn vốn; muốn vậy cần phải có nguồn để trích lập dự phòng; đối với Quỹ hiện nay đó chính là nguồn từ chênh lệch thu chi (chủ yếu từ lợi nhuận được chia phần vốn góp của ngân sách Nhà nước) và Quỹ dự phòng này cần được dồn tích qua nhiều năm để tạo một nguồn đủ lớn để bù đắp rủi ro mà không cần phải dùng đến vốn điều lệ.

          3. Vướng mắc trong việc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các ngân hàng thương mại góp vốn điều lệ Quỹ bảo lãnh tín dụng.

          Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15/10/2013 của Thủ tướng quy định việc các ngân hàng thương mại tham gia góp vốn điều lệ Quỹ BL và giao NHNN Việt Nam hướng dẫn các TCTD trong việc góp vốn nhưng tại Thông tư số 05/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã không hướng dẫn nội dung này mà lại bãi bỏ Thông tư 01/2006 về hướng dẫn các ngân hàng thương mại góp vốn; là không thực hiện Quyết định 58 của Thủ tướng dẫn đến các tổ chức tín dụng không có cơ sở để góp vốn điều lệ Quỹ mặc dù có một số ngân hàng đã thống nhất góp vốn điều lệ cho Quỹ.

          Tuy nhiên, việc quy định các ngân hàng thương mại tham gia góp vốn điều lệ Quỹ BL theo QĐ 58 lại trái với quy định tại Điều 103, 110, 115, 118 của Luật các TCTD năm 2010 chỉ cho phép các NHTM góp vốn vào doanh nghiệp, trong khi Quỹ Bảo lãnh tín dụng là một tổ chức tài chính hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nên cũng không được xem là một Quỹ đầu tư. Ngoài ra, việc TCTD góp vốn để bảo lãnh cho khoản vay tại chính TCTD (dùng vốn của ngân hàng bảo lãnh cho chính ngân hàng) là không hợp lý nên NHNN Việt Nam không có Thông tư hướng dẫn theo như quy định tại QĐ 58.

          4. Các vướng mắc chính trong việc ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa Quỹ với các ngân hàng thương mại theo Thông tư số 05/2015/TT-NHNN ngày 04/5/2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (TT 05):

          4.1. Về tài sản đảm bảo tại Quỹ BLTD

          Theo điều 23, QĐ 58 thì doanh nghiệp phải có TSĐB tại Quỹ. Theo điều 7, TT 05 của NHNN thì Quỹ trả nợ thay ngay khi ngân hàng yêu cầu, nếu không thì phải chuyển TSĐB tại Quỹ cho ngân hàng xử lý để thu hồi nợ.

          Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, nếu doanh nghiệp đã có TSĐB thì thế chấp vay trực tiếp tại ngân hàng chứ không thế chấp cho Quỹ để bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại ngân hàng dẫn đến lòng vòng mất thời gian, công sức, hồ sơ thủ tục, phí bảo lãnh, chi phí cơ hội. Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp đưa tài sản thế chấp cho ngân hàng thì không phải thuê đơn vị thẩm định giá TSĐB mà do ngân hàng trực tiếp làm (sẽ được tính trừ vào những khoản khác), nhưng nếu thế chấp cho Quỹ thì doanh nghiệp phải thuê đơn vị thẩm định giá TSĐB, tốn thêm phí Chứng thư thẩm định giá. Do đó, cả Quỹ và ngân hàng đều thống nhất rằng đây là điều không thể ký được Thỏa thuận phối hợp theo TT 05.

          4.2. Về việc chấp nhận Chứng thư bảo lãnh

          Đến nay, hầu hết các ngân hàng không chấp nhận Chứng thư của Quỹ do theo QĐ 58 thì chứng thư của Quỹ là chứng thư có điều kiện, nhưng các ngân hàng chỉ chấp nhận chứng thư vô điều kiện và không hủy ngang.

          Các TCTD đề nghị Chứng thư bảo lãnh của Quỹ là cam kết thanh toán vô điều kiện, Quỹ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh ngay khi nhận được văn bản yêu cầu của ngân hàng, nhưng điều này là trái với Quyết định 58; do đó Quỹ và ngân hàng không thể thực hiện được việc ký Thỏa thuận phối hợp.

          4.3. Vướng mắc trong công tác phối hợp thẩm định

          Do 2 bên thẩm định dựa trên 2 cơ sở khác nhau: Ngân hàng thẩm định dựa trên các BCTC nội bộ, còn Quỹ thẩm định dựa trên BCTC quyết toán thuế hoặc đã được kiểm toán dẫn đến kết quả khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.

          Ngân hàng có thể bỏ qua những sai sót của doanh nghiệp trong hồ sơ pháp lý, BCTC, … không yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh vốn tự có thực hiện phương án vay vốn, vốn điều lệ,… nhưng quy định tại QĐ 58 thì đặt trọng yếu đối với những vấn đề này.

          Phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư doanh nghiệp nộp cho ngân hàng xác định doanh thu, chi phí theo báo cáo nội bộ; trong khi phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư doanh nghiệp nộp cho Quỹ phải phù hợp với báo cáo tài chính được kiểm toán hoặc nộp cho cơ quan thuế. Dẫn đến sự chênh lệch về số liệu giữa Quỹ và Ngân hàng để đánh giá hiệu quả và có khả năng hoàn trả vốn vay đúng hạn của phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư.

          Vướng mắc trong việc chứng minh 15% vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh: vì phương án sản xuất kinh doanh, ngân hàng và quỹ chấp nhận doanh thu và chi phí khác nhau, vòng quay vốn lưu động khác nhau dẫn đến việc tính toán nhu cầu vốn cho phương án, xác định vốn tự có tham gia phương án cũng khác nhau. Trong khi Quỹ bắt buộc phải kiểm soát việc doanh nghiệp phải chứng minh có 15% vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh thì ngân hàng không yêu cầu doanh nghiệp phải chứng minh các nguồn vốn tham gia phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư vì có nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát khác như quản lý dòng tiền. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa hướng dẫn cụ thể về chứng minh 15% vốn chủ sở hữu tham gia vào phương án.

          4.4. Vướng mắc về các thủ tục trước khi thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay:

          a) Về thực hiện mọi biện pháp thu hồi nợ

          Hiện nay, khi doanh nghiệp không trả nợ đúng hạn thì TCTD chỉ thực hiện thủ tục nhắc nợ mà không áp dụng mọi biện pháp thu hồi nợ (bao gồm cả điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ) theo quy định tại Điều 28, Quyết định 58; do đó, Quỹ không có cơ sở để trả nợ thay.

          Tuy nhiên, việc yêu cầu TCTD phải thực hiện tất cả các biện pháp thu hồi nợ trước khi đề nghị Quỹ trả nợ thay thì TCTD cho rằng là trái với quy trình đòi nợ của ngân hàng. Do theo quy định, các TCTD không bắt buộc phải thực hiện tất cả các biện pháp thu hồi nợ vì việc xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ là Quyền, không phải nghĩa vụ của Ngân hàng và đã được quy định tại HĐTD với doanh nghiệp; do đó không bắt buộc Ngân hàng phải thực hiện điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ,.... Khi quá hạn các khoản nợ tự động nhảy nhóm nợ. Do đó đó khi rủi ro xảy ra, TCTD yêu cầu Quỹ thực hiện ngay thủ tục trả nợ mà không thực hiện hết tất cả các biện pháp thu hồi nợ.

          b) Về trách nhiệm chứng minh TCTD đang cho vay đúng mục đích:

          Trường hợp TCTD cho vay có TSĐB tại ngân hàng (không cần dựa trên Chứng thư bảo lãnh), trong quá trình cho vay nếu khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích (do cố ý, hoặc do yếu tố khách quan khác…) khi đó làm cho quá trình sử dụng kiểm tra sử dụng vốn của Ngân hàng không hoàn toàn được chính xác, khi có rủi ro xảy ra, TCTD có quyền xử lý tài sản, tự Ngân hàng chủ động có thể làm được.

          Tuy nhiên, nếu cho vay trên Chứng thư bảo lãnh của Quỹ mà ngân hàng không chứng minh được việc kịp thời phát hiện và không kiểm tra việc sử dụng vốn vay không đúng không đầy đủ thì Quỹ từ chối trả nợ sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.

          Đối với khoản cho vay theo hạn mức thì ngân hàng không tách bạch được phần nào giải ngân bằng Chứng thư Quỹ bảo lãnh, phần nào giải ngân bằng TSBĐ của doanh nghiệp tại Ngân hàng, do đó rất khó xác định việc sử dụng vốn vay đúng mục đích trên Chứng thư bảo lãnh của Quỹ.

          Ngoài ra, QĐ 58 yêu cầu TCTD hồ sơ gửi đầy đủ hợp lệ cho Quỹ; tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước chưa có hướng dẫn nêu rõ hồ sơ nào, như thế nào là hợp lệ, việc yêu cầu sử dụng đầy đủ các biện pháp thu hồi nợ cần quy định cụ thể vì mỗi ngân hàng có một quy trình, biện pháp thu hồi nợ khác nhau hoặc theo quy trình đòi nợ của Ngân hàng.

          4.5. Về thời hạn hiệu lực của bảo lãnh vay vốn

          Tại Điều 30 Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg quy định chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn trong đó có trường hợp thời hạn hiệu lực của bảo lãnh vay vốn đã hết. Tuy nhiên, không hướng dẫn cụ thể về cách xác định Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh vay vốn.

          Trong ktại Điều 28 quy định về thực hiện cam kết bảo lãnh quy định bên nhận bảo lãnh có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp để thu hồi nợ (bao gồm cả điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ…) trước khi đề nghị Quỹ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

          Như vậy, khi thực hiện các thủ tục này, ngân hàng mới đề nghị Quỹ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì ã hết thời hạn bảo lãnh

  1. heo quy định tại Điều 16 Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg thì thời hạn bảo lãnh tín dụng được xác định phù hợp với thời hạn vay vốn đã thỏa thuận giữa bên được bảo lãnh và tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, thời hạn bảo lãnh của Quỹ chưa tính thời gian thực hiện các thủ tục để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

          Thực tế hiện nay tại các Quỹ bảo lãnh thì thời hạn hiệu lực bảo lãnh là thời hạn bảo lãnh của Chứng thư bảo lãnh. Do đó đây là vướng mắc lớn trong việc thống nhất giữa Quỹ, Doanh nghiệp và Ngân hàng.

          Theo tôi, đề nghị Ngân hàng Nhà nước có thể quy định: thời hạn hiệu lực của Chứng thư bảo lãnh = thời hạn bảo lãnh = thời hạn vay vốn của HĐTD + 3 tháng xử lý nợ.

          Với những vướng mắc trên nên giữa Quỹ và các TCTD không ký kết được với nhau Thỏa thuận hợp tác theo Thông tư 05 của Ngân hàng Nhà nước. Một vấn đề nữa cần phải trao đổi thêm là: mặc dù có nhiều nội dung, quy định trong QĐ 58 cần phải có hướng dẫn chi tiết nhưng Quyết định 58 không có quy định cụ thể nào yêu cầu NHNN hướng dẫn các quy trình một cách chi tiết, do đó NHNN không có cơ sở pháp lý để hướng dẫn sâu, kỹ hơn tại Thông tư 05.

          Mặc khác, Quyết định 58 quy định trách nhiệm của NHNN trong việc kiểm tra, giám sát quy trình bảo lãnh của Quỹ, nhưng NHNN Việt Nam cũng vướng mắc do đối với quản lý Nhà nước của Quỹ bảo lãnh thì Quỹ được thành lập để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và nguồn vốn của Quỹ là từ Ngân sách địa phương, cơ chế tổ chức hoạt động thành lập được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính vì vậy NHNN không thể thực hiện chức năng thanh tra hoạt động của Quỹ được, mà NHNN chỉ có trách nhiệm thanh tra, giám sát các TCTD có quan hệ phối hợp trong cho vay với Quỹ.

          Về hiệu lực chế tài của TT 05 thì Thông tư 05 là ban hành trên cơ sở các TCTD và Quỹ thỏa thuận phối hợp với nhau những nội dung phù hợp quy định pháp luật, Bộ Luật Dân sự và QĐ 58. Hơn nữa, theo Luật các TCTD quy định các TCTD có quyền tự chủ trong kinh doanh, có quyền từ chối việc cấp tín dụng cũng như cung cấp các dịch vụ của Ngân hàng nếu như thấy không có lợi hoặc trái với các quy định của pháp luật. Do đó nguyên tắc của Thông tư 05 là do Quỹ và các TCTD tự thỏa thuận.

          Ngay từ khi mới ban hành, QĐ 58 đã có nhiều vướng mắc, đặc biệt là tại Điều 23 (việc yêu cầu doanh nghiệp phải có tài sản bảo đảm tại Quỹ) và Điều 28 (điều kiện Quỹ trả nợ thay), nên các TCTD rất “ngại” trong việc cho vay có bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dẫn đến chưa đạt được mục tiêu hỗ trợ cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn vay tại các TCTD.

          Mặt khác, nếu bảo lãnh theo cơ chế không có TSĐB tại Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Chứng thư bảo lãnh là vô điều kiện không hủy ngang thì cũng dẫn đến “bất cân xứng” giữa nghĩa vụ và quyền lợi của Quỹ, doanh nghiệp và TCTD, vì như vậy đã đẩy toàn bộ rủi ro về phía Quỹ, trong khi TCTD thì có được thêm khách hàng, thu được lãi suất, doanh nghiệp thì được rút vốn hoạt động SXKD, nhưng Quỹ thì chỉ thu một khoản phí bảo lãnh rất nhỏ, mang tính tượng trưng, doanh thu không thể bù đắp được rủi ro dẫn đến mất vốn.

          Từ thực tế hoạt động của Quỹ, toàn bộ các vướng mắc tại QĐ 58 đã được phản ánh trung thực nhất những khó khăn vướng mắc. Hy vọng rằng, trong thời gian đến các cơ quan Trung ương sẽ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cơ chế bảo lãnh tín dụng phù hợp với thực tế, hài hòa, chia xẻ giữa nghĩa vụ, rủi ro và quyền lợi của Quỹ, doanh nghiệp và TCTD thì hoạt động bảo lãnh tín dụng sẽ đi vào trong thực tế, thực sự phát huy tác dụng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa./.

Đoàn Ngọc Vui

Liên kết website