NGHỊ ĐỊNH MỚI VỀ ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC VÀO DOANH NGHIỆP

Ngày 11 tháng 07 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 71/2013/NĐ-CP (Tải tại đây) về Đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/9/2013, Nội dung Nghị định tập trung cụ thể hóa các nội dung:

- Nghị định quy định rõ một số vấn đề về nguyên tắc đầu tư vốn vào doanh nghiệp, các hình thức, điều kiện và thẩm quyền quyết định việc đầu tư vốn Nhà nước vào các doanh nghiệp.

- Cụ thể hóa quyền và trách nhiệm của các Bộ quản lý ngành và UBND cấp tỉnh, thành phố đối với việc quản lý phần vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; quy định quyền, trách nhiệm, tiêu chuẩn và chế độ báo cáo của Người đại diện phần vốn góp.

- Lợi nhuận, cổ tức được chia từ phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác (vốn nhà nước góp ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên do Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm chủ sở hữu) được nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp.

- Quy định việc tăng, giảm và thu hồi vốn Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

- Nghị định quy định rõ mục đích, nguyên tắc, phương thức, thẩm quyền và sử sụng nguồn thu từ việc chuyển nhượng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, theo đó đó phần còn lại được nộp về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp.

- Quy định một số vấn đề mới liên quan đến tỷ lệ huy động vốn, việc bảo lãnh vay vốn và trách nghiệm giám sát của chủ sở hữu mà Quỹ cần quan tâm trong nghiệp vụ, gồm: 

+ Doanh nghiệp được quyền chủ động huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh đảm bảo hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không vượt quá 3 lần, bao gồm cả các khoản bảo lãnh vay vốn đối với doanh nghiệp có vốn góp của công ty mẹ. Đối với doanh nghiệp có tổng nhu cầu huy động vốn vượt quy định nêu trên để đầu tư các dự án quan trọng phải báo cáo chủ sở hữu xem xét, quyết định trên cơ sở các dự án huy động vốn phải đảm bảo khả năng trả nợ và có hiệu quả. Chủ sở hữu có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tài chính để phối hợp theo dõi và giám sát.

+ Tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay vốn đối với một công ty con không vượt quá giá trị vốn góp của công ty mẹ tại công ty con. Tổng giá trị các khoản bảo lãnh vay vốn của công ty mẹ cho các công ty con do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có vốn góp của công ty mẹ không vượt quá vốn chủ sở hữu của công ty mẹ nhưng phải đảm bảo hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu nêu trên.

+ Chủ sở hữu giám sát chặt chẽ việc huy động và sử dụng vốn huy động tại các doanh nghiệp.

- Quy định doanh nghiệp phải xây dựng và ban hành quy chế quản lý các khoản nợ phải thu, phân công và xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc theo dõi, thu hồi, thanh toán các khoản công nợ;

 - Ngoài ra nghị định cũng cụ thể hóa một số nội dung về quản lý tài chính và phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.

- Về kế hoạch tài chính: Doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tài chính cho năm kế tiếp gửi chủ sở hữu, cơ quan tài chính trước ngày 31 tháng 7 hàng năm. Chủ sở hữu chủ trì phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp rà soát lại kế hoạch tài chính do doanh nghiệp lập và có ý kiến chính thức bằng văn bản để doanh nghiệp hoàn chỉnh kế hoạch tài chính. Kế hoạch tài chính sau khi hoàn chỉnh là kế hoạch chính thức làm cơ sở cho chủ sở hữu và cơ quan tài chính cùng cấp giám sát đánh giá quản lý điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

- Về kiểm toán báo cáo tài chính: Quy định doanh nghiệp phải thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính năm theo quy định của pháp luật.

Đây là văn bản liên quan và rất cần thiết cho hoạt động của Quỹ cũng như hoạt động quản lý phần vốn góp của Quỹ tại các doanh nghiệp, cần nghiên cứu để áp dụng trong thời gian đến./.

                                                                                                                                                                     Trần Lê 

Liên kết website