THÔNG TƯ 02/2013/TT-NHNN, MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN

Ngày 21 tháng 01 năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN (Thông tư 02) về Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/6/2013. Cùng với đó, theo Thông cáo báo chí của Ngân hàng Nhà nước thì để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng chuẩn bị đầy đủ các điều kiện áp dụng các quy định tại Thông tư này, ngày 27/5/2013 Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 12/2013/TT-NHNN (Thông tư 12) điều chỉnh thời điểm hiệu lực của Thông tư 02/2013/TT-NHHH là từ ngày 01/06/2014.
         Việc quy định lùi thời gian hiệu lực của Thông tư 02/2013/TT-NHNN là cần thiết trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh đó để việc triển khai áp dụng Thông tư được thuận lợi thì theo quan điểm của cá nhân tôi một số nội dung quy định của Thông tư 02/2013/TT-NHNN cần được xem xét làm rõ thêm như sau:
         1/ Về hiệu lực pháp lý:
         1.1/ Tại Điều 25 của Thông tư 02 về hiệu lực thi hành, bên cạnh việc quy định hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2013 thì tại điểm 2 có quy định: thời điểm áp dụng đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng là từ ngày 01/01/2014 và quy định một số văn bản hết hiệu lực thi hành như: Chỉ thị 05/2005/CT-NHNN ngày 26/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23 tháng 4 năm 2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
         Tuy nhiên, tại Điều 01 của Thông tư 12/2013/TT-NHHH chỉ quy định: "Khoản 1 Điều 25 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN được sửa đổi như sau: 1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2013"
         Như vậy, sẽ dẫn đến cách hiểu khác nhau nhưng bất hợp lý về thời điểm áp dụng như sau:
         - Nếu xem toàn bộ nội dung quy định của Thông tư 02 có hiệu lực từ 01/06/2014, thì việc quy định áp dụng các nội dung quy định tại Thông tư 02 đối với các Tổ chức phi tín dụng từ ngày 01/01/2014 là không thể thực hiện được vì bản thân Thông tư chưa có liệu lực từ ngày 01/01/2014.
         - Nếu tách riêng hiệu lực theo từng nội dung quy định của Thông tư 02 và Thông tư 12 thì với việc quy định một số văn bản hết hiệu lực từ ngày 01/06/2013 như: Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, số 780/QĐ-NHNN , như vậy trong thời gian từ ngày 01/6/2013 đến ngày 31/5/2014, các tổ chức tín dụng sẽ áp dụng theo văn bản nào ?
          1.2/ Tại điểm 2 Điều 25 của Thông 02 có quy định: "Tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều 10 Thông tư này kể từ ngày 01/01/2014" Tức là quy định việc áp dụng một số trường hợp nợ được phân loại vào nhóm 3.
         Điều này sẽ dẫn đến các vướng mắc có các tổ chức tín dụng phi ngân hàng vì:
         - Thời điểm áp dụng quy định như vậy là chưa rõ ràng.
         - Các tổ chức tín dụng Nhà nước như hệ thống các Quỹ đầu tư phát triển địa phương từ trước đến này đều áp dụng phân loại nợ như các tổ chức tín dụng nay lại áp dụng theo thời điểm phân loại khác là chưa rõ ràng.
         2/ Về nội dung quy định của Thông tư 12
         2.1/ Về phần giải thích từ ngữ (Điều 3): Đây là Thông tư hướng dẫn thực hiện của Nhà nước do vậy các tư ngữ cần chuẩn hóa và rõ ràng, vì vậy đề nghị phần giải thích từ ngữ nên có điều chỉnh thêm:
         - Bổ sung thêm việc giải thích một số cụm từ cần thiết như "Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ; "gia hạn nợ", "tổ chức tín dụng phi ngân hàng".... đây mặc dù là các cụm từ chuyên ngành và phổ biến nhưng rất cần thiết trong việc áp sụng của Thông tư này.
         - Ngược lại cụm từ "Tỷ lệ cấp tín dụng xấu" được giải thích nhưng lại không được sử dụng, có chăng chỉ sử dụng "dư nợ cấp tín dụng xấu" .  
         2.2/ Với việc quy định phải sử dụng kết quả phân loại nhóm nợ đối với khách hàng do CIC cung cấp tại thời điểm phân loại để điều chỉnh kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng của đơn vị mình (Điều 8), dẫn đến một số vấn đề cần có nghiên cứu thêm là:
         - Việc phân loại nhóm nợ của các tổ chức tín dụng nhỏ liệu có là cơ sở để CIC (Trung tâm Thông tin tín dụng) và các tổ chức tín dụng quy mô lớn khác phải điều chỉnh kết quả phân loại nhóm nợ của một đơn vị theo quan điểm của tổ chức tín dụng mình (có đầy đủ hồ sơ để đánh giá).
         - Chưa quy định trách nhiệm cụ thể về tính chính xác của số liệu, tính bảo mật thông tin của các tổ chức tín dụng khi cung cấp thông tin cho CIC, cũng như trách nhiệm của CIC khi cung cấp thông tin cho các tổ chức tín dụng để làm cơ sở điều chỉnh phân loại nhóm nợ. 
         - Hiện nay quan hệ giữa các Tổ chức tín dụng và CIC là mối quan hệ dân sự thông qua Hợp đồng, vì vậy khi áp dụng theo các nội dung quy định của Thông tư  cần làm rõ Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) liệu có phải là đơn vị quản lý Nhà nước, thay mặt cho Ngân hàng Nhà nước trong việc cung cấp thông tin để các tổ chức tín dụng thực hiện. Các số liệu này cực kỳ quan trọng vì ảnh hưởng đến toàn bộ dữ liệu về dư nợ của đất nước tại một thời điểm.
         Chính vì vậy nên chăng quy định theo hướng thông tin CIC là một trong nhữ nguồn dữ liệu để các tổ chức tín dụng tham khảo trong quá trình phân loại nợ của khác hàng.  
         2.3/ Với việc quy định mốc thời hạn từ 03 hoặc 05 ngày các tổ chức tín dụng phải cung cấp thông tin phân loại nhóm nợ hàng quý cho CIC hoạc CIC cung cấp lại cho các tổ chức tín dụng thì cần có đánh giá thêm liệu với cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện nay của các tổ chức tín dụng và cả CIC có đảm bảo được không ?  
         2.4/ Với việc bổ sung thêm quy định cho phép phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định tính (Điều 11) ngoài phương pháp định lượng (được quy định tại Điều 10), cho phép các đơn vị mở rộng thêm phương pháp phân loại.
         Tuy nhiên, xét cho cùng thì để có được cơ sở quyết định phân loại theo định tính thì các đơn vị phải sử dụng các chỉ tiêu định lượng để đánh giá, đồng thời để áp dụng phương pháp định lượng thì các tổ chức tín dụng phải lập hồ sơ và được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận theo một số điều kiện vì vậy không khả thi và sẽ rất ít có trường hợp áp dụng theo phương pháp định lượng.
         Vì vậy, nên chăng Ngân hàng Nhà nước cần có quy định kết hợp giữa 2 phương pháp để các đơn vị áp dụng trong quá trình thực hiện sẽ có kết quả phân loại nhóm nợ phù hợp hơn.
         2.5/ Ngoài ra, hiện nay Luật Phòng, chống rửa tiền đã đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, trong đó có quy định nhận biết và phân loại mức độ rủi ro đối với từng khách hàng, vì vậy cơ chế phân loại nợ cũng cần được bổ sung kết hợp các yếu tố này để đảm đảm đánh giá đúng mức độ rủi ro đối với khách hàng để trích lập đủ dự phòng, đảm bảo an toàn tín dụng cho các tổ chức .

Trần Lê Minh Tín - Quỹ Đầu tư phát triển TP Đà Nẵng

Liên kết website